Khai báo trị giá TK G12

Chúng tôi là vender của công ty Samsung, cty sản xuất và bán hàng cho Cty Samsung. Gần đây chúng tôi có tạm nhập tái xuất võ khuôn đúc sản phẩm bằng nhôm (loại hình G12) để sản xuất hàng hóa cho Samsung (điều kiện DAP), mọi chi phí vận chuyển, xếp dở tới công ty Bên cty cho mượn đã chịu tất cả chi phí, cty chúng tôi không mất chi phí nào cả. * Theo Thông tư 60/2019/TT-BTC sửa đổi thông tư 39/2015/TT-BTC: đối với hàng nhập khẩu là hàng hóa đi mượn thì trị giá hải quan là toàn bộ chi phí mà người đi mượn phải trả để đưa hàng đến cửa khẩu nhập đầu tiên, nhưng mọi chi phí này bên cho mượn (cty samsung) đã trả, cty chúng tôi không mất chi phí nào cả. * Vậy nên: trị giá hải quan cho lô hàng trên công ty chúng tôi đã khai là không đồng (0.00 VND) thì có đúng quy định không hay phải áp dụng trị hải quan như thế nào là đúng.

1 bình luận về “Khai báo trị giá TK G12”

  1. Căn cứ Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25 tháng 03 năm 2015 của Bộ Tài chính “Quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu” được sửa đổi bổ sung tại khoản 9 Điều 1 Thông tư số 60/2019/TT-BTC ngày 30 tháng 08 năm 2019, quy định:

    “Đối với hàng hóa nhập khẩu là hàng đi mượn, trị giá hải quan là toàn bộ các chi phí mà người đi mượn phải trả để đưa hàng hóa đến cửa khẩu nhập đầu tiên, phù hợp với các chứng từ, tài liệu có liên quan đến hàng hóa đi mượn.

    Trường hợp cơ quan hải quan có căn cứ xác định người khai hải quan khai báo trị giá không phù hợp thì xác định trị giá hải quan theo phương pháp xác định trị giá quy định tại Thông tư này, phù hợp với thực tế hàng hóa nhập khẩu”.

    Căn cứ Điều 5, Điều 6 Thông tư số 39/2015/TT-BTC, quy định:

    “Điều 5. Nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu

    1. Nguyên tắc: Trị giá hải quan là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên, được xác định theo các phương pháp quy định tại khoản 2 Điều này.

    2. Phương pháp xác định: Giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên được xác định bằng cách áp dụng tuần tự sáu phương pháp xác định trị giá hải quan quy định tại Điều 6, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12 Thông tư này và dừng ngay ở phương pháp xác định được trị giá hải quan. Các phương pháp xác định trị giá hải quan bao gồm:

    a) Phương pháp trị giá giao dịch”…

    “Điều 6. Phương pháp trị giá giao dịch

    1. Trị giá giao dịch là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu sau khi đã được điều chỉnh theo quy định tại Điều 13 và Điều 15 Thông tư này.

    2. Giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu là tổng số tiền mà người mua đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán, trực tiếp hoặc gián tiếp cho người bán để mua hàng hóa nhập khẩu. Bao gồm các khoản sau đây:

    a) Giá mua ghi trên hóa đơn thương mại;

    b) Các khoản điều chỉnh theo quy định tại Điều 13 và Điều 15 Thông tư này;

    c) Các khoản tiền người mua phải trả nhưng chưa tính vào giá mua ghi trên hóa đơn thương mại, bao gồm:

    c.1) Tiền trả trước, tiền ứng trước, tiền đặt cọc cho việc sản xuất, mua bán, vận tải, bảo hiểm hàng hóa;

    c.2) Các khoản thanh toán gián tiếp cho người bán (ví dụ như: khoản tiền mà người mua trả cho người thứ ba theo yêu cầu của người bán; khoản tiền được thanh toán bằng cách cấn trừ nợ)”…

    Như vậy, theo quy định trên, trường hợp “Bên Công ty cho mượn đã chịu tất cả chi phí” như Công ty đã nêu, thì trị giá hải quan được xác định là toàn bộ các chi phí mà người cho mượn phải trả thay cho công ty (người mượn) để đưa hàng hóa đến cửa khẩu nhập đầu tiên, phù hợp với các chứng từ, tài liệu có liên quan đến hàng hóa đi mượn.

    Đề nghị công ty căn cứ các quy định trên để khai báo trị giá hải quan lô hàng đúng quy định. Trường hợp phát sinh vướng mắc, đề nghị liên hệ trực tiếp với Chi cục Hải quan nơi dự kiến đăng ký tờ khai để được hướng dẫn cụ thể.

    Trả lời

Viết một bình luận

Nhận bài viết qua Email